1. Kiến trúc Ai Cập
cổ đại
Nhà nước Ai Cập cổ đại là một trong những nhà nước ra đời sớm nhất ở lưu vực sông Nin vùng đông bắc châu Phi. Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất và rực rỡ nhất của nhân loại.
- Kim tự tháp
Người Ai Cập
cổ đại có tục lệ ướp xác, tạo thành các "mummy"
và chôn chúng trong những ngôi mộ đồ sộ là Mastaba và Kim tự tháp. Mastaba là lăng mộ của tầng lớp
quý tộc, là một khối xây bằng đá, có mặt cắt hình thang, mặt bằng hình chữ nhật.
Trong Mastaba có ba phòng: sảnh, phòng tế lễ và phòng thờ (nơi đặt tượng người
chết). Từ mặt trên của Mastaba người ta đào một giếng hình tròn hoặc hình vuông, sâu đến khoảng 30 m.
Đáy giếng thông sang một hành lang rồi đến phòng mai táng (nơi để quan tài).
Sau khi chôn người chết, giếng được lấp kín. Ở Ai Cập còn tìm thấy nhiều nơi có
dấu vết của các khu vực có Masataba như khu lăng mộ vua chúa ở Memphis, xây
dựng ở vương triều thứ ba, khoảng thế kỷ 18 trước Công nguyên. Loại hình kiến trúc này là nguồn
gốc ban đầu của các Kim tự tháp.Một trong những Kim tự tháp lớn xuất hiện đầu tiên là Kim tự tháp Djoser. Nó có đáy hình chữ nhật, hai cạnh dài 126 m và 106 m, cao 60 m, có 6 bậc, các tầng thu nhỏ về phía trên. Công trình này do Imhotep chỉ đạo xây dựng. Ông là một vị quan đầu triều của nhà vua vương triều thứ 3, năm 2770 trước Công nguyên. Ngoài Kim tự tháp này còn có Kim tự tháp ở Meidum và ở Dashur là những loại có ba bậc cấp. Sau này, chúng được nghiên cứu và phát triển thành Kim tự tháp trơn, tiêu biểu nhất là quần thể Kim tự tháp ở Giza. Quần thể này bao gồm ba Kim tự tháp lớn, một con nhân sư Sphinx, 6 Kim tự tháp nhỏ, một số đền đài và 400 Mastaba. Ba Kim tự tháp trên là: Kim tự tháp Kheops (hay Kim tự tháp lớn tại Giza),Kim tự tháp Khephren và Kim tự tháp Mykerinos. Các Kim tự tháp này mang tên các nhà vua của Vương triều thứ 4; các kim tự tháp nhỏ hơn là của các hoàng hậu cùng thời. Vật liệu xây dựng tháp là đá vôi được khai thác tại chỗ, bên ngoài được phủ lớp đá vôi trắng nhẵn bóng, lấy từ các mỏ đá ở Tourah, trên hữu ngạng sông Nin, lớp phủ này ngày nay đã bị tróc mất.
- Đền thờ
- Nhà ở
Vào khoảng thế kỷ
17 TCN, nhiều loại hình nhà ở được thấy ở thành Telel
Amarna. Có ba loại nhà chính sau:
·
Nhà ở
ba gian, vật liệu xây dựng là lau sậy và đất sét, mái bằng.
·
Nhà
cho quan lại, tường gạch cao, mở ba cửa quay ra phố.
·
Loại
lâu đài, dinh thự có ao cá, vườn cây phía trước, vật liệu dùng cột gỗ, tường gạch,
dầm gỗ, mái bằng và trong nhà có trang trí tranh tường. Các cung điện của nhà
vua có quy mô lớn, nhấn mạnh trục dọc, bên trong các phòng có nhiều cột, ngoài
trục dọc còn có thể có trục phụ. Gỗ làm cung điện, Ai Cập không có mà được vận
chuyển từ Syrie tới.
- Các thức cột
Các thức cột được mô phỏng theo hình
tượng con người và các loài cây (chà là, sồi, bao báp,...). Các loại thức có:
·
Thức
hoa sen, tạo dựng lấy từ nguồn cảm hứng gồm một bó hoa sen, được buộc lại bởi 5
vòng dây, xen kẽ thêm những nụ nhỏ;
·
Thức
cây kê, xuất hiện từ thời Trung vương quốc V, mô hình cây Papyrus;
·
Thức
Hathor, xuất hiện từ thời Trung vương quốc, bốn phía đầu cột là mặt nữ Thần
tình yêu Hathor, diện hình đa giác 6-8-16 mặt. Đầu cột là tấm đá vuông, trên đó
là đá đầu cột, tiếp trên là tường đầu cột,...
2. Kiến Trúc Lưỡng Hà - Ba Tư
- Giai đoạn 4000 năm
trước Công nguyên
Các công
trình sớm nhất được tìm thấy tại các địa điểm như Mureybet và Abu Hureyra ở Syria vào khoảng 8000 năm trước Công nguyên
là các nhà ở bán ngầm (semi-subterranean dwellings) hình tròn. Một phần
tường hình tròn được tìm thấy ở Zagros khoảng 8000 năm trước Công nguyên được
xem như di tích kiến trúc đầu tiên của vùng phía bắc Lưỡng Hà. Công trình kiến
trúc đầu tiên được ghi nhận ở vùng Hạ Iraq được tìm thấy ở vùng Maghzaliyah, gần
Yarim Tepe vào khoảng 7000 năm trước Công nguyên với các thành đá cư trú (megalithic
settlement wall) và các kết hình vuông được làm từ các khối bùn (tauf),
trên nền đá.
- Kiến trúc của người Sumer
Ziggurat
Các cư
dân người Sumer đầu tiên đã định cư ở Lưỡng Hà và xây
dựng nên nền văn minh ở đây vào khoảng 3500 năm trước Công nguyên cho đến thời
đạiBabylon. Kiến trúc của vùng Lưỡng Hà thường
được xem như bắt đầu với sự hình thành các thành phố của người Sumer và sự sáng
tạo nên chữ viết và khoảng 3100 năm trước Công nguyên. Các công trình kiến trúc
được xây dựng trong thời kì Protoliterate là chủ yếu là các đền đài tôn giáo.
Người Sumer sử dụng vật liệu chủ yếu xây dựng bằng gạch-bùn,
với thể loại công trình nổi tiếng là các Đài chiêm tinh Ziggurat, còn được gọi là bệ núi, ra đời trên
cơ sở sùng bái đồi núi, sùng bái thiên thể và tục lệ xem sao, các vì tinh tú
trên trời. Ziggurat là loại hình kiến trúc kiểu tầng bậc, bệ cao nọ đặt trên bệ
cao kia, càng lên cao thì thu dần lại, có đường dốc trượt hoặc bậc thang thẳng
góc hoặc men theo khối xây để đi lên đỉnh, trên đỉnh có một đền thờ nhỏ.
Bậc thang có khi đi lên từ bên phải và bên trái khối xây, cũng có kiểu bậc
thang xoáy
trôn ốc. Mỗi thành phố đều có một hoặc một số Ziggurat. Dấu vết còn
lại đã chứng minh đó là những công trình kiến trúc bằng đất nện, bên ngoài có
xây một lớp gạch. Ziggurat còn lại ở thành phố Ur là chứng tích nổi tiếng nhất của loại
hình kiến trúc này, có niên đại khoảng năm
2125 TCN, có kích thước đáy 65 x 43 m,
tầng một cao 9,75 m, tầng hai có kích thước 347 x 23 m, cao 2,5 m, chiều cao
tầng trên cùng khoảng 21 m. Ngoài Ziggurat ở Ur, người ta còn tìm thấy dấu vết
các Ziggurat khác ở Uruk, Eridou, Ninive và tạo dựng lại cả hình ảnh Ziggurat ở
Babilon. Nhìn chung, các Ziggurat có từ ba đến bảy bậc, mỗi tầng được trang trí
một màu khác nhau, tượng trưng cho một ngôi sao thờ.
Do vùng bình nguyên
Tigris-Euphrates không có khoáng vật và cây cối lớn, các cấu trúc của người
Sumer thường là từ gạch bùn dạng lồi (plano-convex mudbrick). Gạch lồi
này được sản xuất từ đất nung hoặc phơi khô dưới ánh nắng mặt trời. Viên gạch
có hình dạng với mặt dưới phẳng, mặt trên có dạng chỏm cầu. Người ta sử
dụng bùn làm vữa kết
dính trong kết cấu xây dựng mà không dùng đến xi măng. Để tạo được độ ổn định cho kết cấu,
người ta đặt một hàng gạch phẳng xuống đáy của mỗi hàng gạch. Phần lỗ thủng
giữa các viên gạch được trét bằng nhựa cây,rơm, sậy và
cỏ dại.
Do xây dựng bằng bùn đất, các
công trình dễ bị hư hỏng, do vậy người Sumer phải phá hủy định
kì, san phẳng và xây dựng lại trên cùng một địa điểm. Chu kì tái xây dựng các
công trình trên cùng một địa điểm dần dần đã nâng cao cốt nền chung của toàn
thành phố hơn vùng bình nguyên xung quanh thành các đồi. Các đồi này được tìm
thấy ở khắp vùng Cận Đông. Các cuốn sách Sumer cổ đại (cylinder seals)
cũng miêu tả quá trình xây dựng từ cây sậy, không giống với những công trình
được xây dựng ở vùng đầm lầy Ả rập phía nam Iraq ngày nay. Các ngôi đền và cung
điện của người Sumer được xây dựng bằng các vật liệu và kỹ thuật tiên tiến hơn,
ví dụ như trụ tường, hõm tường, bán cột vànền đất
sét.
- Kiến trúc Babylon
Cuối
thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, lợi dụng sự suy sụp của Lưỡng Hà, hai
tộc người Elam và người Amorites xâm lược tàn phá và cướp bóc. Người Amorites
xây dựng hai quốc gia về phía Nam của Lưỡng Hà là Ixine và Laxa; ở phía Bắc của
Lưỡng Hà cũng hình thành các quốc gia Esnunna và Marie. Đến lượt các quốc gia
trên tranh giành và gây chiến với nhau liên miên, gây nên cảnh đổ nát hoang
tàn.
Vào
khoảng đầu thế kỷ XIX trước Công Nguyên, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà
và hình thành quốc gia cổ Babylon (khác với Tân Babylon sau này) và họ đã thống
nhất được khu vực Lưỡng Hà. Quốc gia Babylon cổ nằm trên đường giao lưu quan
trọng nối châu Á rộng lớn sang Địa Trung Hải, châu Phi và châu Âu.
Sự cường
thịnh và hùng mạnh đạt đến cao điểm vào thời kỳ 1792-1750 trước Công Nguyên,
dưới triều đại vua Hammourabi. Nhà nước cổ Babylon thống nhất trên một diện
tích lãnh thổ toàn bộ Lưỡng Hà và bị suy sụp vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ
II trước Công Nguyên bởi người Catsites nổi dậy và làm chủ hầu hết lãnh thổ của
Babylon.
Kinh tế Babylon có những sắc thái đặc biệt do giao điểm của các
con đường Đông Tây cũng như sự trù phú của đồng bằng Lưỡng Hà. Nông nghiệp phát
triển nhờ vào các yếu tố thuận lợi cũng như thành tựu thủy lợi của thời kỳ này.
Người Babylon không những tự cung cấp được lương thực mà còn có một lượng dồi
dào để thông thương buôn bán với các khu vực khác. Vua Hammourabi ra lệnh đào một
con sông tưới cho cả vùng rộng lớn Akkad.
Thủ công
nghiệp có nghề làm gạch, luyện kim, đồ trang sức, dệt, da, đóng thuyền, xây
dựng... bên cạnh một nền thương mại phát triển giúp cho vùng Babylon càng thêm
giàu có và phát triển.
Xã hội nổi bật bởi sự ra đời của bộ luật Hammorabi chia cư dân
thành ba hạng người: dân tự do, tiện dân và nô lệ. Nguồn nô lệ chủ yếu được cấp
từ nguồn tù binh chiến tranh, mua bán.
Chính trị từ thời Hammorabi, các vua Babylon tự coi mình là hiện
thân của thần thánh. Vua tự đồng nhất mình với việc kế vị các vị thần cho nên
vương quyền và thần quyền hòa quyện với nhau, tạo thành một chế độ độc đoán
chuyên chế và thần bí.
Văn hoá của Babylon cổ là sự giao hòa giữa hai yếu tố Sumer và
Akkad. Sự ra đời bộ luật Hammorabi và được khắc trên một tấm đá bazan cao 2,25
mét, đường kính đáy gần 2 mét. Phía trên mặt trước của tấm đá được khắc hình thần
Mặt Trời ngồi trên ngai trao bộ luật cho vua Hammorabi đứng đón một cách trịnh
trọng. Phiến đá này được người Pháp tìm thấy ở kinh đo của xứ Elam cổ, hiện nay
đang được lưu giữ ở bảo tàng Louvre.
Nghệ thuật của Babylon cổ đạt đến trình độ điêu luyện trên nền tảng
của hai yếu tố Sumer và Akkad. Nghệ thuật hội họa gắn chặt với nghệ thuật kiến
trúc.
Kiến trúc Của người Ả Rập có nhiều thành tựu đáng trọng. Huyền
thoại các cung điện nguy nga tráng lệ và những câu truyện cổ tích thần tiên đã
tô điểm cho thế giới Ả Rập thần bí và là những tuyệt tác của nhân loại.
Kiến
trúc Ả Rập là tinh hoa pha trộn và sáng tạo của các luồng kiến trúc Địa Trung
Hải và văn minh sông Hằng xa xội. Thành phố Babylon được bao quanh bởi một bức
tường màu vàng dài 13 km và có 300 tháp canh. Đỉnh cao và chiếm về mức độ
vĩ đại là một trong bảy kỳ quan cổ của người Babylon: Vườn treo Babylon.
Người Hy
Lạp về sau bổ sung thêm nhiều chi tiết. Một giả thuyết kể rằng khu vườn rộng
120 m2, chiều cao của bức tường thành cao khoảng 25 m. Khu vườn có bãi đất tạo
hình bậc thang như một nhà hát, với các công trình nhỏ hòa quyện bên trong.
Phần nền xây nhiều vách tường, mỗi vách rộng khoảng 7m và cách nhau 3m, để đỡ
các dầm bằng đá. Phía trên dầm là ba lớp riêng biệt - sậy đặt trong lớp nhựa
đường, hai lớp đá xây bằng gạch, và lớp vỏ ngoài cùng làm bằng chì. Đất trong
khu vườn đặt ở trên cùng, nước tưới cây lấy từ các cỗ máy ngụy trang hút nước
từ con sông chảy bên dưới. Một giả thuyết thứ hai cho rằng, có đến 20 vách
tường chống. Một giả thuyết thứ ba lại kể khu vườn nằm trên các mái cong dạng
vòm xây bằng gạch và nhựa đường: các đinh vít kiểu Archimede nằm dọc theo cầu
thang cung cấp nước. Một mô tả khác cho rằng có một công trình phụ gồm các cột
bằng đá đỡ các dầm bằng gỗ: dầm làm bằng thân cây cọ. Thay vì bị mục rữa, đã
mang chất bổ đến nuôi dưỡng rễ cây trồng trong khu vực treo ở phía trên, toàn
bộ khuôn viên được tưới tiêu bằng một hệ thống gồm các vòi phun nước và máng
dẫn thiết kế thật tài tình.
Vì có
những mô tả trái ngược nhau, một số tỏ ra ngờ vực liệu vườn treo có thật hay
không. Tuy không có một đề cập đến bất cứ đặc điểm kiến trúc nào, ngoại trừ các
thân cây không bị mục rữa, quả đáng ngạc nhiên. Du khách Hy Lạp chắc hẳn đã
chứng kiến việc đưa cây cối lên cao, và chúng ta có thể tìm kiếm những gì còn
lại trong đống đổ nát hiện tại theo cách hợp pháp. Nhưng thật không may, các
cung điện ở Babylon đã bị những người háo hức tận dụng những viên gạch nung
tráng lệ tàn phá hàng ngàn năm trước. Ngày nay chỉ còn lại phần nền móng mà
thôi. Những người thám hiểm ban đầu tìm kiếm các khu vườn trong Cung điện mùa
hè trên cao, diện tích khoảng 180 m2, cùng với việc kết hợp các giếng nước công
phu, nhưng vẫn không đủ không gian dành cho các bãi đất hình bậc thang và cây
cối. Một nhà khảo cổ đã xác định vị trí của khu vườn nằm phía trên một số mái
cong dạng vòm mà ông phát hiện nằm ở Cung điện phía Nam, lại một lần nữa cũng
có các giếng nước, cái mái dạng vòm còn là nền móng của một khu vực hành chánh,
cũng có thể là một nhà lao. Bất kỳ ai tìm kiếm mặt bằng tầng trệt thuộc khu vực
cung điện sẽ nhận thấy các cung điện phía Bắc và phía Nam nằm bên sườn hướng
Bắc và Tây, gắn với Euphrates, bằng các công trình nào trong số này cũng đều có
các khu vườn tạo hình bậc thang, có lẽ gây ấn tượng nhất là công trình phụ phía
Tây. Phần bao quanh này, có diện tích khoảng 190 x 80 m, với các tường ngoài
rộng khoảng 20 m, làm bằng gạch đặt trong lớp nhựa đường. Có nhiều căn phòng ở
đầu phía Bắc, trong khi ở đầu phía Nam có một góc hình vuông, có lẽ cầu thang
đặt trong một góc. Trong công trình độc đáo này, có thể người ta đã tạo hình
một khu vườn hình vuông, gần bằng với kích thước yêu cầu, với các ngôi nhà nghỉ
trong mùa hè cùng một khu núi non bộ tạo hình bậc thang. Nhưng vấn đề này chỉ
được giải quyết qua những cuộc khai quật gần đây hoặc bằng một số tư liệu chưa
tìm thấy từ thời vương triều Nebuchadnezzar. Cho đến lúc này, chúng ta có thể
hình dung Vườn treo có các mái dạng vòm và vòi nước hoặc bằng bất cứ hình ảnh
nào trong trí tưởng tượng.
- Kiến trúc Assyri
Nghệ thuật trang trí
Triều
đại Nabucodonosor
2 còn để lại cho nhân
loại hai chứng tích lớn về kiến trúc có sử dụng gạch lưu ly từ thế kỷ 6. Chứng tích thứ nhất là cửa thành Ishtar,
có bố cục trang trí các mảng tường lớn, phân bố đều các hình động vật, lặp di
lặp lại một cách đơn giản nhưng ấn tượng về nhịp điệu rất mạnh. Chứng tích thứ
hai là bức tường phía sau ngự điện trong cung điện của nhà vua Nabucodonosor.
Toàn bộ mặt tường là bức tranh lớn, có một loạt con sư tử ở
chân tường, băng giữa của tường có bốn cây, mỗi cây lại đỡ những bó hoa hai
tầng, băng trên cùng là dải hoa cỏ.
.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)


.jpg)
.jpg)
.jpg)
No comments:
Post a Comment