Kiến trúc Việt Nam có thể chia ra làm các giai đoạn nổi bật sau đây:
- Kiến trúc cổ Việt Nam
Kiến trúc cổ truyền Việt Nam đa phần sử dụng kết cấu khung gỗ như nhà gỗ truyền thống Việt Nam kết
hợp với các vật liệu bổ trợ khác như gạch, đá, ngói, đất, rơm, tre... Trong thể
loại kiến trúc này, thực sự không có sự khác biệt hoặc phân chia hoặc khác biệt
nhiều về kết cấu của các thể loại công trình khác nhau. Dựa trên đặc điểm cũng
như tính chất của hệ kết cấu cũng như vật liệu, trong kiến trúc cổ truyền
Việt Nam không thực sự tồn tại các công trình có kích thước lớn như ở các quốc
gia khác.
Trong suốt lịch sử, kiến trúc cổ
truyền Việt Nam thực sự không có nhiều thay đổi hoặc có xuất hiện những trường
phái như ở châu Âu. Vì là một quốc gia phải liên tục chịu đựng chiến tranh trải
dài theo lịch sử, thời gian để hòa bình xây dựng rất ngắn, nên kiến trúc lớn
hay bền vững tồn tại không có nhiều. Có thể phân loại kiến trúc Việt Nam ra các
công trình hạng mục theo:
·
Chức năng sử dụng: kiến trúc cung điện, tôn
giáo (đình, chùa, miếu thờ...), văn hóa (bia, đền...), nhà ở dân gian,...
·
Vật liệu xây dựng thì cũng ít có tính cách
lâu dài, chỉ trừ các công trình công cộng: gạch, đá, gỗ quý (thiết mộc)... mà
đa số dùng các vật liệu địa phương sẵn có như lá, tranh, tre, gỗ đẽo, đá kê nền
cột, đất sét nung hoặc không nung, bùn trộn rơm,...
· Kết cấu: khung sườn gỗ, mộng và lỗ mộng (không dùng đinh), vĩ kèo gỗ đòn tay, rui mè, đòn vong, cột kê tán (không móng, cừ...) tùy theo điều kiện địa lý mà có thể nhà kết cấu nâng sàn, nửa nhà sàn nửa nền đất, hay trên nền đất, nhưng không có lầu hay nhiều tầng như các nước khác. Mái nhà thường có độ dốc cao do hay dùng lá, tranh, ngói (dốc lớn hơn 45 độ).
· Trang trí: công trình công cộng thì thường lợp ngói (hoàng cung, đình, miếu...), mái công ở góc mái có trang trí đầu đao, rồng, cá,... chạm trổ hoa văn trang trí các đầu đà xà gồ gỗ, các hình tượng trang trí thường từ thú họ tứ linh (Long, Ly, Qui, Phượng) hay cọp, cá,..
· Thiết kế bình đồ: công trình công cộng như chùa, đình thường có bình đồ dùng theo chiết tự Hán như nội công ngoại quốc,... còn nhà ở thì thường là 3 gian, 2 chái, hình chữ đinh, nhà chính (nhà trên) và nhà phụ (nhà dưới) có sân nước (sân thiên tỉnh)... và thường không ngăn chia ra các phòng nhỏ như ở tây phương, 1 cửa chính và 1 cửa đi phụ và rất ít cửa sổ. Nhà ở miền Nam nhiều sông rạch nên phương tiện đi lại chính là xuồng nên công trình phụ như nhà để ghe xuồng thường ở mé sông (xẽo) hay ụ tàu, và phía ngoài nhà có chuồng trâu bò, còn kho lúa thì thường đặt trong nhà.
·
Vật lý kiến trúc: thông gió tự nhiên, tường
và mái nhà thường trùm kín nhà do mưa rất nhiều, hơn nữa cửa đi và cửa sổ mở rất
ít do an ninh ngừa trộm cắp nên chiếu sáng tự nhiên rất tối và kém sáng sủa,
nhà ở thường hướng nam (đón gió nồm thổi mát vào mùa hè) và 2 chái phụ ở 2 đầu
nhà sẽ là hướng đông tây chống hơi nóng mặt trời sáng và chiều. Trồng cây: trước
nhà trồng cau (cau để đón gió nam mát) sau nhà trồng chuối (lá chuối ngăn bớt
gió bấc lạnh mùa đông).
- Kiến trúc thuộc địa
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)